Kết nối:-
BẢN TIN VIỆN CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH 16/08/2025
  • By admin
  • 29 Tháng 9, 2025
  • No Comments

BẢN TIN VIỆN CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH 16/08/2025

(Theo Kinhtedothi) Tài sản số vào Trung tâm Tài chính quốc tế: cơ hội tăng tốc và bài toán rủi ro của kinh tế Việt Nam

Việc Nhà nước chính thức luật hóa tiền số được đánh giá là bước ngoặt quan trọng, mở ra cơ hội để các nhà đầu tư trong nước tiếp cận sâu hơn thị trường tiền mã hóa. Đặc biệt, khi tài sản số được đưa vào vận hành tại Trung tâm Tài chính quốc tế (TTTCQT), Việt Nam không chỉ có khung pháp lý hoàn chỉnh hơn mà còn sở hữu “đòn bẩy” để thu hút dòng vốn quốc tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, song hành cùng tiềm năng là những rủi ro cần được kiểm soát chặt chẽ.

Trong nhiều năm qua, tài sản số, đặc biệt là tài sản mã hóa thường bị nhìn nhận với nhiều e ngại. Nhưng với việc Việt Nam chính thức công nhận, bao gồm cả hình thức mã hóa các tài sản truyền thống, cục diện đã thay đổi.

Ông Johan Nyvene – Chủ tịch Công ty CP Chứng khoán TP Hồ Chí Minh cho biết, trước đây tài sản mã hóa thường bị gắn mác tiêu cực, thậm chí bị coi là lừa đảo. Việc công nhận chính thức không chỉ tạo hành lang pháp lý mà còn mở ra cơ hội đưa các tài sản truyền thống vào giao dịch dưới dạng mã hóa. Việt Nam vốn là một trong những thị trường giao dịch tiền mã hóa lớn nhất thế giới, nên đây là tín hiệu rất tích cực. Khi tài sản mã hóa được đưa vào TTTCQT, đây sẽ là bước khởi đầu quan trọng để thu hút vốn từ các tổ chức quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh dân số trẻ và tỷ lệ dân nhập cư cao.

Giám đốc Trung tâm Mô phỏng và Dự báo kinh tế – Viện Nghiên cứu Phát triển TP Hồ Chí Minh Nguyễn Trúc Vân cho biết, Nghị quyết 222 về TTTCQT tại Việt Nam, có hiệu lực từ 1/9/2025, xác định ba lĩnh vực ưu tiên phát triển, trong đó có tài sản số và công nghệ tài chính (fintech). TTTCQT tại TP HCM sẽ bao gồm ba cơ quan chính: điều hành, giám sát và giải quyết tranh chấp – với tòa án chuyên biệt và trung tâm trọng tài quốc tế.

Theo Statista, thị trường tài sản số Việt Nam dự kiến đạt 2,9 tỉ USD vào năm 2026, với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm khoảng 21,5%. Tiềm năng lớn, nhưng thách thức cũng không nhỏ, đòi hỏi thêm những đột phá về chính sách và công nghệ.

Tổng Thư ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính (VAFI) Phùng Anh Tuấn cho rằng, để thị trường tài sản số phát triển mạnh mẽ và gắn kết hiệu quả với TTTCQT, không nên chỉ giới hạn trong mô hình trung tâm thông thường mà cần mở rộng thành trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D). Điều này giúp hình thành các thể chế đột phá, kết nối thị trường hiệu quả hơn và thu hút vốn quốc tế thuận lợi hơn.

Cơ quan quản lý cần có nền tảng công nghệ đủ mạnh để theo dõi, xử lý kịp thời các vấn đề như gian lận, thao túng; đồng thời phối hợp với sàn giao dịch nhằm bảo đảm an toàn, tuân thủ pháp luật. Một cơ quan chuyên trách với đủ quyền hạn, năng lực và cơ chế bảo vệ quyền lợi người dùng là cần thiết, đặc biệt trong giải quyết tranh chấp và phòng chống rửa tiền.

Ông Dũng cho biết đã có ba diễn biến chính sách quan trọng mở đường cho blockchain và tài sản số: Nghị quyết của Quốc hội về TTTCQT, trong đó đề cập sàn giao dịch tài sản số; Bộ Tài chính trình đề án thí điểm sàn giao dịch chuyên biệt và Luật Công nghiệp Công nghệ số xác định blockchain là hạ tầng chiến lược quốc gia trong 10 năm tới.

Sự xuất hiện của các sàn giao dịch hợp pháp không chỉ tạo thêm lựa chọn bên cạnh cổ phiếu và trái phiếu, mà còn mở đường cho nhà đầu tư cá nhân tiếp cận nhiều loại tài sản mới như crypto hay crowdfunding. Chi phí tiếp cận giảm, quy mô đầu tư linh hoạt hơn, khuyến khích cả nhà đầu tư nhỏ lẻ. Đồng thời, việc “mở cửa” thị trường tiền số cũng hứa hẹn thu hút lượng lớn nhà đầu tư quốc tế, giúp thị trường minh bạch hơn, phản ánh đúng cung – cầu và cải thiện tốc độ xử lý giao dịch.

Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm thách thức. Trước đây, lo ngại chính của nhà đầu tư là lừa đảo và tranh chấp do giao dịch “chui”; nay, với khung pháp lý, yêu cầu lớn nhất là nâng cao kiến thức về thị trường. Biến động giá mạnh, rủi ro công nghệ và nguy cơ chọn nhầm dự án “bong bóng” vẫn có thể gây thiệt hại nặng nề.

TTTCQT có thể trở thành đòn bẩy quan trọng để Việt Nam bứt tốc trong nền kinh tế số, nhưng để thành công, nhà đầu tư cần chuẩn bị kỹ về kiến thức, kỹ năng phân tích và chiến lược quản trị rủi ro. Ngược lại, cơ quan quản lý phải thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ từ tiêu chuẩn niêm yết, kiểm toán dự án đến cơ chế bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư nhằm bảo đảm thị trường tài sản số phát triển lành mạnh, bền vững.

Chi tiết tại:

https://kinhtedothi.vn/tai-san-so-vao-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-co-hoi-tang-toc-va-bai-toan-rui-ro-cua-kinh-te-viet-nam.806779.html

 

(Theo TBNH) Sacombank hợp tác cùng Misa cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp

Theo thỏa thuận hợp tác, Sacombank và MISA sẽ cùng phát triển, tích hợp các nền tảng và mang lại giải pháp tài chính có tính tiện lợi, kết nối cao.

Cụ thể, khách hàng khi sử dụng nền tảng phần mềm từ MISA như quản lý bán hàng, kế toán, hóa đơn điện tử, kê khai thuế sẽ được tích hợp trực tiếp với các dịch vụ ngân hàng hiện đại của Sacombank gồm thanh toán không tiền mặt với đa dạng phương thức từ thẻ, mã QR, SmartPOS, SoftPOS trên điện thoại di động, máy tính bảng.

Giải pháp này giúp tiết kiệm thời gian, giảm rủi ro, tối ưu chi phí và mang lại trải nghiệm liền mạch. Bên cạnh đó, Sacombank còn cung cấp thêm các gói giải pháp tài chính linh hoạt bao gồm cấp vốn thấu chi, tín chấp và thế chấp với lãi suất ưu đãi, chính sách miễn – giảm phí dịch vụ, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh.

Mục tiêu mà Sacombank và MISA hướng tới là xây dựng hệ sinh thái tài chính – công nghệ hàng đầu tại Việt Nam, phục vụ hàng chục nghìn cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh và doanh nghiệp trên hành trình số hóa hoạt động, chuẩn hóa quản trị và chủ động thích ứng với những quy định, chính sách thuế mới.

Sự kết hợp này sẽ mang đến những giải pháp tài chính hữu ích và chúng tôi rất trông đợi việc phổ biến các giải pháp này đến khách hàng. Mong rằng trong tương lai, Sacombank và MISA sẽ cùng tạo nên những sản phẩm dịch vụ đột phá hơn nữa”.

“Sacombank cam kết đồng hành cùng khách hàng thông qua các giải pháp tài chính linh hoạt, giúp số hóa hoạt động và chuẩn hóa quản trị, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh, mở rộng thị trường và chủ động thích ứng với các quy định, chính sách thuế mới. Việc hợp tác cùng MISA sẽ góp phần đa dạng hóa lựa chọn, mang đến giá trị thiết thực, hình thành cộng đồng kinh doanh năng động và hội nhập sâu vào nền kinh tế số”, ông Nguyễn Minh Tâm – Phó Tổng giám đốc Sacombank – chia sẻ.

Thỏa thuận hợp tác giữa Sacombank và MISA không chỉ thể hiện quyết tâm đồng hành cùng khách hàng, mà còn tạo sức mạnh cộng hưởng để hỗ trợ cá nhân, hộ kinh doanh và cộng đồng doanh nghiệp thích ứng linh hoạt trước những thay đổi, từng bước phát triển bền vững trong môi trường kinh tế số. Đồng thời, sự phối hợp này sẽ góp phần thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân – động lực then chốt của tăng trưởng – phát triển năng động, mở rộng hội nhập vào chuỗi giá trị quốc gia và toàn cầu.

Chi tiết tại:

https://thoibaonganhang.vn/sacombank-hop-tac-cung-misa-cung-cap-giai-phap-tai-chinh-toan-dien-cho-ca-nhan-ho-kinh-doanh-va-doanh-nghiep-168909.html

 

(Theo KT&ĐT) Bước ngoặt bỏ room tín dụng

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khẩn trương xây dựng có lộ trình và thí điểm việc gỡ bỏ biện pháp giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (room tín dụng) để thực hiện từ năm 2026.

Room tín dụng được áp dụng tại Việt Nam chính thức từ năm 2011 – thời điểm tín dụng tăng trưởng cao cùng với lạm phát vượt ngưỡng. NHNN áp dụng room tín dụng như một công cụ để kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng, chất lượng cho vay cũng như phục vụ các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác như lãi suất, cung tiền và lạm phát.

Trong những năm 2000, tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình hơn 30%/năm, đặc biệt năm 2007 lên đến 50%. Điều này kéo theo lãi suất lên cao, tín dụng chảy vào thị trường tài sản nhiều như bất động sản có thể dẫn đến tình trạng định giá cao và tín dụng tăng trưởng cao khiến cho lạm phát tăng cao, lên tới 20% vào năm 2008. Nhưng hiện công cụ này bị “chê” là tạo cơ chế xin – cho, một số trường hợp khiến người vay không thể tiếp cận tín dụng nếu nhà băng không còn “quota”.

Trong bối cảnh kinh tế đang phục hồi và nhu cầu vốn vay tăng cao, room tín dụng đang trở thành yếu tố cản trở sự phát triển của các ngân hàng. Nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) phản ánh rằng, room tín dụng “cứng nhắc” khiến họ khó mở rộng cho vay, ngay cả khi nhu cầu tín dụng hợp lý và tiềm năng. Lấy ví dụ, một ngân hàng trong quý III đã gần chạm ngưỡng room tín dụng được cấp, dẫn đến phải từ chối các khoản vay mới, dù các dự án vay vốn thuộc lĩnh vực sản xuất, chế biến và có tỷ lệ rủi ro thấp.

Theo các chuyên gia, bỏ room tín dụng sẽ tạo sức ép cạnh tranh lành mạnh. Bản chất cơ chế room tín dụng hiện tại là phân chia thị phần tín dụng cho mỗi ngân hàng theo mức nhất định hằng năm. Các ngân hàng thường hướng đến cân đối cho vay trong hạn mức được cấp, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng gần như bị triệt tiêu. Nếu cơ chế này được dỡ bỏ, các ngân hàng sẽ được phép cạnh tranh tự do. Đương nhiên, khi đó việc xây dựng chất lượng tín dụng, năng lực phục vụ, khả năng tài chính sẽ là những điểm đột phá mà các tổ chức tin dụng đều hướng tới.

Trên thực tế, NHNN đang thực hiện lộ trình giảm dần và tiến tới xóa bỏ phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng ngân hàng. Năm 2024, NHNN đã lần đầu tiên thực hiện giao toàn bộ chỉ tiêu tín dụng ngay từ đầu năm, thay vì điều chỉnh linh hoạt theo từng quý như trước, ngoài ra cơ quan điều hành đã bỏ “room” tín dụng với nhóm chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Với các tổ chức tín dụng còn lại, NHNN rà soát để từng bước dỡ bỏ hạn mức này.

Năm 2025, điều này tiếp tục được duy trì, cho thấy định hướng điều hành rõ ràng hơn. Thay vì đặt vấn đề “bỏ hay không bỏ room tín dụng”, cách làm mới cho thấy NHNN đang chuyển sang tư duy “khi nào là thời điểm phù hợp để bỏ”, và từng bước chuẩn bị cho lộ trình thoát khỏi công cụ quản lý hành chính này.

Liên quan tới chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc gỡ bỏ công cụ hành chính “room tín dụng”, ông Đỗ Bảo Ngọc – Phó Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán Kiến Thiết cho rằng, việc bỏ room tín dụng giúp Việt Nam tiệm cận chuẩn quốc tế, phù hợp mục tiêu nâng hạng thị trường tài chính. Đối với NHTM, việc bỏ room tín dụng sẽ giúp họ chủ động hơn khi lập kế hoạch tín dụng, tối ưu hóa lợi nhuận, đặc biệt trong mùa cao điểm nhu cầu vốn cuối năm.

Phó Tổng Giám đốc Agribank Phùng Thị Bình cho hay, với một ngân hàng thương mại, cũng như các DN nói chung, việc xây dựng kế hoạch kinh doanh hằng năm là yêu cầu bắt buộc. Đối với ngân hàng vốn là trung gian tài chính, vừa thực hiện huy động vốn, vừa cho vay thì việc xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng cần dựa trên năng lực tài chính của chính mình.

Chuyên gia phân tích SSI Research đánh giá, khi khả năng bỏ room tín dụng xảy ra, bức tranh thị phần tín dụng của các ngân hàng sẽ có sự thay đổi. “Gỡ bỏ cơ chế hạn mức tín dụng sẽ có lợi cho các ngân hàng có bộ đệm vốn mạnh, do họ có khả năng mở rộng cho vay tốt hơn” – SSI nhấn mạnh.

Chi tiết tại:

https://kinhtedothi.vn/buoc-ngoat-bo-room-tin-dung.807789.html

 

#Fintech #Congnghetaichinh #dnu_fta #Bantin

MessengerZaloPhone